Ngày 25 Tháng 05 Năm 2018
Menu

Thư viện hình ảnh

Thư viện video

Dự báo thời tiết
Đà Nẵng 29°C
Hải Phòng 29°C
Nha Trang 30°C
Nghệ An 31°C
Việt Trì 34°C
Gia Lai 25°C
Sơn La 28°C
TP. Hồ Chí Minh 30°C
Hà Nội (Láng) 33°C
Cập nhật lúc: :19h - 25/05/2018
Nguồn: KTTVTW
Tâm lý - Y sinh học TDTT

Dịch bệnh béo phì tuổi vị thành niên: sự phản hồi đối với hoạt động cơ thể

04 Tháng Năm 2011

DỊCH BỆNH BÉO PHÌ TUỔI VỊ THÀNH NIÊN: SỰ PHẢN HỒI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CƠ THỂ

Việc quyết định ai là quá cân và ai là béo phì.
Các giới hạn “quá trọng lượng” và “béo phì” thường được coi như thể là đồng nghĩa nhưng thực sự không phải như vậy. Cả hai trạng thái này đều cho thấy trọng lượng cơ thể quá mức, nhưng béo phì là một trạng thái cao hơn so với trạng thái quá trọng lượng. Những xác định và tiêu chuẩn của sự béo phì phụ thuộc trong một phạm vi rộng theo cách thức thường dùng để quyết định trạng thái đó. Để xác định một trạng thái lí tưởng thì việc đánh giá hoặc xác định tỷ lệ mỡ của cơ thể bằng cách đo lượng mỡ dưới da hoặc trọng lượng cơ thể dưới nước hoặc qua việc sử dụng các kĩ thuật DEXA. Lượng mỡ của cơ thể quá 30% thì được cho là béo phì.
Do những hạn chế về những dụng cụ để ước lượng tỷ lệ mỡ trong cơ thể, do đó phải nhờ tới những dụng cụ đơn giản hơn đó là dụng cụ đánh giá về chiều cao và cân nặng của cơ thể. Hầu hết thường đánh giá các chỉ số về quá trọng lượng và béo phì dựa trên trọng lượng và chiều cao, đó là chỉ số khối lượng cơ thể (BIM = trọng lượng (kg) chia cho chiều cao (m2). Đối với người trưởng thành, BIM = 25-29kg/m2 là quá trọng lượng, BMI = 30kg/m2 hoặc hơn là béo phì. Tuy nhiên, các điểm ngưỡng này không có giá trị đối với trẻ em và tuổi thanh niên. Dựa vào các dữ kiện của hơn 97.000 đối tượng từ các quốc gia khác nhau, các mức độ của ngưỡng này ở tuổi thanh nhiên thấp hơn so với tuổi trưởng thành, và thậm chí còn thấp hơn cả trẻ em (Cole và các cộng sự 2000). Ví dụ, mức độ ngưỡng của béo phì đối với một cậu bé 15 tuổi là 28kg/m2, và cậu bé 8 tuổi thì ngưỡng đó là 23kg/m2. Đồng thời mức ngưỡng tương ứng chỉ ra đối với người quá trọng lượng là 23 và 18kg/m2.
Ngay cả sự thông dụng của thước đo BMI, thì cũng phải nhận thấy rằng không có sự khác biệt nào giữa một người có trọng lượng quá tải qua các chỉ số về lượng mỡ cao và người có trọng lượng cơ thể quá tải qua một lượng lớn mỡ tự do. Điều hạn chế này đặc biệt có liên quan đến các VĐV, là những người có khả năng biến đổi được lượng mỡ lớn và lượng mỡ tự do trong cơ bắp. Đối với những người như vậy, họ sẽ vượt qua được chỉ số giá trị của tỷ lệ lượng mỡ trong cơ thể.
Mục đích của bài báo này là nêu lên một cách gãy gọn về sự gia tăng nhanh chóng căn bệnh béo phì gần đây của trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên, để tổng kết những kết quả của việc điều tra đã được nghiên cứu về những nguyên nhân có khả năng gây ra căn bệnh béo phì ở tuổi vị thành niên, qua những cuộc thăm dò trao đổi ngắn gọn tới việc phòng ngừa và chữa trị căn bệnh này. Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng phổ biến các dữ kiện BMI để đánh giá mức độ béo phì.
Bệnh dịch béo phì ở trẻ vị thành niên
Ba thập kỉ qua người ta thấy một sự dấy lên mạnh mẽ và lan rộng của bệnh béo phì ở tuổi vị thành niên. (trong bài báo này “tuổi vị thành niên” thường được nói đến đó là trẻ nhỏ và thanh thiếu niên). Ví dụ ở bảng 1, sự lan rộng của bệnh béo phì và quá trọng lượng ở tuổi vị thành niên ở Mỹ đã tăng một cách rõ rệt từ năm 1965 đến 1995. Và sự gia tăng này ở những cậu bé nhanh hơn ở những cô bé.
Bảng 1:
Giới tính
Nhóm tuổi (năm)
Sự tăng trưởng phổ biến (%)
Nữ
6 – 11
106
Nữ
12 – 17
69
Nam
6 – 11
108
Nam
12 – 17
146
Một nghiên cứu thể trạng người Canada đã chỉ cho thấy phần lớn sự tăng trưởng phổ biến là thừa cân và quá trọng lượng của tuổi vị thành niên giữa năm 1981 và 1996 (Tremblay và Willms, 2000). Sự tăng trưởng này xuất hiện đặc biệt mạnh ở các nhóm tuổi trẻ. Thí dụ, trong số những cậu bé 7 tuổi thì có sự phát triển về béo phì là 6 và thừa cân là 3. Tỉ lệ béo phì của tuổi vị thành niên tăng lên một cách đáng kể so với những người trưởng thành Canada (Tremblay và cộng sự, 2002). Làn sóng mạnh mẽ của sự béo phì tuổi vị thành niên xảy ra không chỉ ở các nước công nghệ phát triển (Livingstone, 2001), mà còn sảy ra ở các nước kém phát triển nơi đã thường thấy trước đây không có đủ dinh dưỡng (Seidell). Tổ chức Sức khoẻ Thế giới đã đặt tên cho hiện tượng này là một Bệnh dịch toàn cầu. (Tổ chức sức khoẻ thế giới, 1997).
Các nguyên nhân gây ra nạn dịch toàn cầu
Các nguyên nhân của bệnh dịch béo phì tuổi vị thành niên gần đây chưa được rõ ràng (Bar – Or và cộng sự, 1998; Jebb và Moore, 1999; Livingstone, 2000). Theo quan niệm, có 3 nguyên nhân có thể gây ra: những biến đổi thuộc di truyền, hấp thụ năng lượng tăng, và tiêu hao năng lượng giảm. Giả thuyết về di truyền có thể bị loại bỏ, bởi vì nó không giống như những biến đổi có khả năng thể hiện trong một khoảng thời gian ngắn như vậy. Tuy nhiên giả thuyết đó không thể có khả năng chịu sự tác động của môi trường gen mà làm thay đổi hoạt động hay sự tiêu hao thức ăn theo khuynh hướng di truyền của một người nào đó (Cloment và Ferrô, 2003)
Ở Mĩ, việc gia tăng nguồn năng lượng hấp thu được hình như không giống như nguyên nhân thường thấy ở bệnh béo phì, do các dữ kiện từ những năm 1970 tới những năng 1990 không cho thấy sự gia tăng nào trong việc tiêu thụ toàn bộ năng lượng của hầu hết những người lứa tuổi từ 2 đến 19 (Troiano và cộng sự, 2000). Ngoại trừ chỉ có những bé gái là có sự gia tăng. Cùng với việc khảo sát này cho thấy tỷ lệ tiêu thụ chất béo trong việc ăn kiêng giảm rõ rệt trong cả hai giới. Trái ngược với Mĩ, nổi lên hiện tượng bệnh dịch béo phì tuổi vị thành niên ở các nước kém phát triển hình như kèm theo cả việc gia tăng trong việc tiêu thụ thực phẩm.
Nếu như quả thực cho rằng sự hấp thụ năng lượng và chất béo không làm gia tăng trong những thập kỉ qua, thì một nguyên do có khả năng nhất đối với bệnh dịch béo phì hiện nay ở Bắc Mĩ là sự giảm sút về việc tiêu thụ năng lượng do giảm hoạt động theo thói quen của cơ thể (Bar-or và cộng sự, 1998; Troiano và cộng sự, 2000). Trong khi giả thuyết này được coi là đáng tin cậy thì lại không đủ các dữ kiện để chứng thực nó (Jebb và Moore, 1999).
Những thanh thiếu niên và trẻ em có hoạt động đủ không?
Một số nghiên cứu về vấn đề này đã được xác định qua những năm theo một tài liệu được đề cập về hành động ứng xử của giới trẻ bị béo phì so sánh với những người cùng lứa với họ không bị béo phì (Bar-or và Baranowski, 1994; Bar-or và cộng sự, 1998). Hầu hết(Brunch, 1940; Bullen và cộng sự, 1964; Dionne và cộng sự, 2000; Pate và Ross, 1987; Waxman và Stunkard, 1980), các kết quả đều đồng nhất cho rằng béo phì có liên quan tới một cuộc sống luôn luôn phải ngồi một chỗ, ngoại trừ (Klesges và cộng sự, 1990; Stunkard và Pestka, 1962; Wilkinson và cộng sự, 1977).
Mối liên quan có thể xảy ra giữa bệnh béo phì tuổi thành niên là lượng thời gian ngổi trước máy truyền hình đã thu hút được sự chú ý một các đặc biệt. Nhiều nghiên cứu (Andersen và cộng sự, 1998; Crespo và cộng sự, 2001; Dietz và Gortmaker, 1985; Gortmaker và cộng sự, 1996) đã phát hiện ra rằng nguy cơ béo phì có mối liên quan rất mạnh mẽ tới việc xem truyền hình, ngoại trừ một số nghiên cứu (Robinson và cộng sự, 1993; Wolf và cộng sự, 1993). Thí dụ, Crespo và cộng sự (2001) đã phân tích các số liệu lấy từ hơn 4000 trẻ em và thanh niên ở lứa tuổi từ 8 đến 15 tham gia vào một cuộc khảo sát quốc gia của Mĩ từ năm 1988 đến 1994 (NHANES III). Họ đã phát hiện ra rằng bệnh béo phì phổ biến tập trung cao nhất ở những người xem truyền hình 4 giờ hoặc hơn trong một ngày và thấp nhất đối với những người xem truyền hình từ 1 giờ hoặc ít hơn trên một ngày. Xem truyền hình có mối liên quan rất xác thực tới bệnh béo phì trong số các bé gái, thậm chí sau khi có sự kiểm soát về lứa tuổi, dòng giống/tôn giáo, thu nhập của gia đình, hoạt động của cơ thể hàng tuần và hấp thụ năng lượng (Crespo và cộng sự, 2001). Một nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng khả năng rất có thể sảy ra của béo phì sẽ tăng gấp ba lần đối với những trẻ vị thành niên nếu họ ngồi xem truyền hình nhiều hơn 5 giờ/ngày, khi so sánh với những người chỉ xem từ 0 – 2 giờ/ngày (Gortmaker và cộng sự, 1996) (Sơ đồ 1). Theo nghiên cứu này thì khả năng có thể giảm béo phì trong thời gian 4 năm rất rõ khi cho trẻ vị thành niên xem truyền hình ít hơn 2 giờ/ngày so với những trẻ xem truyền hình từ 5.5 giờ hoặc hơn trên một ngày. Các tác giả đã đưa ra kết luận rằng (cho dù hầu hết các nghiên cứu về vấn đề này rất xác thực chứ không dựa trên thực nghiệm) có một mối liên hệ nhân – quả giữa mức độ xem truyền hình với bệnh béo phì. Mặc dù biết được mối quan hệ vững chắc giữa việc xem truyền hình và bệnh béo phì tuổi vị thành niên, có hoặc ít mối liên quan đến số lượng thời gian ngồi trước truyền hình và tiêu hao toàn bộ năng lượng trong ngày (Robinson và cộng sự, 1993; Taraset và cộng sự, 1989). Tuy nhiên, thông qua các dữ kiện về mật độ dân số nói chung gần đây cho thấy không có sự gia tăng về hấp thu năng lượng, điều đó có thể là một trong số những ảnh hưởng của việc xem truyền hình quá mức và việc hấp thụ quá nhiều chất béo và các sản phẩm có nguồn năng lượng cao trong mật độ người xem truyền hình này, có lẽ do số lượng lớn những nhà thương mại có liên quan đến thực phẩm trong các cao trào chương trình quảng cáo (Story và Faulkner, 1990).
Mặc dù có những bằng chứng xác thực đối với việc ít hoạt động trong trẻ em và thanh niên bị béo phì, có một mối liên quan phức tạp hơn giữa bệnh béo phì và tổng năng lượng tiêu hao, bao gồm tiêu hao năng lượng lúc nghỉ ngơi cộng với năng lượng tiêu hao trong thời gian hoạt động thể chất (Ekelund và cộng sự, 2002). Một số nghiên cứu chỉ ra rằng tổng năng lượng tiêu hao hàng ngày (MJ/24h) ở ngưòi bình thương tương đương ở những người béo phì, hoặc thậm chí còn cao hơn cả những người béo phì (Bandini và cộng sự, 1990; Goran, 1997; Treuth và cộng sự, 1998). Cũng không có sự khác biệt nào về tổng mức tiêu hao năng lượng hàng ngày giữa những đứa trẻ mà được cho là có thể sẽ béo phì và không béo phì trong tương lai (Treuth và cộng sự, 2000).
Như đã được thừa nhận mức tiêu hao năng lượng cao trong béo phì là chức năng của khối cơ thể lớn hơn của họ (Maffeis và cộng sự, 1993; Volpe-Ayub và Bar-or, 2003), một số tác giả đã cho rằng mức tiêu hao năng lượng trên một đơn vị cơ thể, như là sự khác biệt giữa tổng mức năng lượng tiêu hao hàng ngày và mức tiêu hao năng lượng lúc nghỉ ngơi (Mức độ hoạt động thể chất = PAL). Thậm chí với những hiệu đính này, những kết quả đưa ra đều không được rõ ràng và sắp xếp theo mối quan hệ trái ngược (Bandini và cộng sự, 1990; Davies và cộng sự, 1997) hoặc là không có một mối quan hệ nào (Bandini và cộng sự, 1990; Dkelund và cộng sự, 2002; Goran và cộng sự, 1997) giữa tình trạng béo phì và mức tiêu hao năng lượng.
Điều đó thật không dễ để hoà hợp cho sự hạn chế về mối quan hệ giữa bệnh béo phì và tổng năng lượng tiêu hao hàng ngày. Một giải thích có khả năng là các chủ thể đó hầu hết có trong các nghiên cứu về bệnh béo phì ngay cả khi họ được quan sát hoặc đã được theo dõi trong khoảng thời gian dài của đoạn chuyển tiếp từ lúc không béo phì tới khi béo phì (ví dụ: khi sự thăng bằng năng lượng của họ được kiểm soát một cách chặt chẽ), mức tiêu hao năng lượng của những người này sẽ trở nên chậm và thấp hơn.
Những yếu tố có lợi trong việc nâng cao hoạt động thể chất
Mặc dù bài viết này tập trung vào các ảnh hưởng của việc nâng cao hoạt động thể chất, điều này cho thấy việc giám sát riêng biệt bệnh béo phì tuổi vị thành niên cũng sẽ bao hàm cả những thay đổi về dinh dưỡng và về thói quen (của đứa trẻ và cha mẹ chúng) (Bar-Or và cộng sự, 1998; Epstein và cộng sự, 1996; Sothern và cộng sự, 2000). Có rất nhiều thuận lợi trong việc cung cấp từ các tài liệu về việc nâng cao hoạt động thể chất trong bệnh béo phì tuổi vị thành niên (Epstein và Goldfied, 1999; Gutin và Humphries, 1998). Bảng 2 và 3 tổng kết toàn bộ các kết quả từ tài liệu về những ảnh hưởng của nâng cao hoạt động thể chất về thành phần cấu trúc cơ thể và các thành phần biến đổi khác hay chỉ tác động riêng về thành phần cấu trúc cơ thể. Phạm vi của bài viết này không cho phép can thiệp sâu vào tất cả các yếu tố ảnh hưởng này. Để biết được chi tiết hơn, nên xem các bài viết gần đây của các tác giả Bar-Or và cộng sự, 1998; Epstein và Goldfield, 1999; Gutin và Humphries, 1998; Sothern, 2001)
Bảng 2: tổng kết tài liệu về các ảnh hưởng của nâng cao hoạt động thể chất lên thành phần cấu trúc của cơ thể.
Biến số
Tăng
Giảm
Không thay đổi
Khối lượng cơ thể
 
X
X
Khối lượng mỡ tự do
X
 
X
% mỡ của cơ thể
 
X
X
Mỡ trong cơ quan nội tạng
 
X
 
Chiều cao cơ thể
 
X
X
 Bảng 3: tổng kết tài liệu về những ảnh hưởng của nâng cao hoạt động thể chất về những thay đổi ngoại trừ thành phần cấu trúc cơ thể .
Biến số
Tăng
Giảm
Không thay đổi
áp suất máu động mạch
 
X
 
Nhạy cảm insulin
X
 
 
Huyết tương Triglyceride
 
X
X
Cholesterol HDL
X
 
X
Cholesterol LDL
 
X
X
Tổng Cholesterol
 
X
X
Thể lực
X
 
 
Tự trọng bản thân
X
 
 
Mỡ của cơ thể và khối lượng cơ thể. Những thay đổi đặc trưng mà kèm theo đó là hoạt động thể chất cao hơn tuỳ thuộc vào bản chất của hoạt động đó cũng như bất kì những thay đổi nào về chế độ ăn uống. Thí dụ, để tiêu thụ hợp lí số năng lượng trao đổi chất, một đứa trẻ phải trải qua các hoạt động thuộc loại yếm khí trong các nhóm môn thể thao sau (ví dụ: bóng rổ, bóng đá), đi bộ nhanh, trượt băng, hay bơi. Một hoạt động cơ thể kéo dài từ 45-60 phút sau đó chịu một mức tiêu hao năng lượng khoảng 200-250kcal (Blaak và cộng sự, 1992; Gutin và cộng sự, 2002). Một chương trình tập yếm khí có thể giúp đứa trẻ béo phì đó giảm được mỡ của cơ thể và toàn bộ khối lượng cơ thể (hoặc là làm chậm lại quá trình gia tăng có liên quan đến khối lượng cơ thể, nhưng có thể giúp duy trì lâu dài, hay thậm chí làm tăng khối lượng chất béo tự do (Pikosky và cộng sự, 2002; Sothern và cộng sự, 2000; Treuth và cộng sự, 1998). Không đi đôi với những thay đổi về chế độ ăn uống, thì việc giảm mỡ có ý nghĩa không thể xảy ra (Epstein và cộng sự, 1996).
Mỡ nội tạng. Trong các nghiên cứu đối với những người trưởng thành, lượng mỡ dư thừa quá mức trong bụng hay trong nội tạng có liên quan đến nguy cơ bệnh động mạch vành và là thành phần của “Hội chứng của sự trao đổi chất”. Có một sự thật trong thanh thiếu niên hiện nay là được nâng cao hoạt động thể chất theo các bài tập theo hướng yếm khí kèm theo đó là giảm (hoặc làm chậm lại sự gia tăng) lượng mỡ trong nội tạng (Gutin và cộng sự, 2002; Owens và cộng sự, 1999). Không có sự gia tăng lượng mỡ bụng thì cũng tương đồng với việc luôn duy trì tập luyện (Treuth và cộng sự, 1998).
Sức chịu đựng insulin. Bệnh dịch béo phì thanh thiếu niên hiện nay kéo theo nó là sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ mắc bệnh mà thường thấy là bệnh đái đường (phổ biến loại 2- “loại của người lớn”) (Berenson và cộng sự, 1995; Pinhas-Hamiel và cộng sự, 1996). Việc gia tăng số lượng trẻ em béo phì có mức insulin cao và những kiểm tra lượng glucza khác thường phải chịu đựng cho thấy sự sự chịu đựng insulin rất cao. Mối liên kết vững chắc giữa loại bệnh đái đường loại 2 và bệnh béo phì của thanh thiếu niên là một lí do khác nữa để những thầy thuốc lâm sàng đang cố gắng ngăn chặn và điều trị bệnh béo phì ở trẻ em và thanh niên. Điều này cho thấy rõ rằng chương trình gia tăng việc hoạt động thể chất có thể giảm sút sự chịu đựng insulin. Tuy nhiên, những thay đổi này và những ảnh hưởng có lợi khác không xuất hiện một lần trong chương trình nghiên cứu được bao hàm trong đó (Ferguson và cộng sự, 1999).
Hoạt động thể chất tự nhiên. Một tài liệu quan trọng đã đưa ra một điểm lưu ý nhỏ là liệu phạm vi nào mà các chương trình hoạt động thể chất theo qui định bắt buộc có thể tác động đến hoạt động tự nhiên của đứa trẻ bị béo phì, đó là một hoạt động không bị bắt buộc mà do tự thân của đứa trẻ đó. Việc sử dụng kĩ thuật mềm mỏng theo chiêu bài gấp đôi (“tiêu chuẩn vàng” đối với phép đo của tổng năng lượng tiêu hao), điều đó đã cho thấy độ lớn lên của tổng năng lượng tiêu hao trong khoảng thời gian chương trình 4 tuần tập các bài tập yếm khí là gấp đôi sự mong chờ từ các buổi tập theo cấu trúc đạp xe mà các đối tượng tham gia (Blaak và cộng sự, 1992). Một nghiên cứu khác nữa là sử dụng gia tốc kế, kiểm tra nhịp tim và phỏng vấn đã thông báo cho thấy hoạt động thể chất tự nhiên và năng lượng tiêu hao tăng lên vào ngày sau cuộc kiểm tra thực nghiệm đó (Kriemler và cộng sự, 1999). Hình như theo cách đó những trẻ em béo phì có thể như “được tiếp sức” qua chương trình của viêc nâng cao hoạt động thể chất và lấy lại được một phong cách sống tích cực hơn. Tài liệu này đang còn phải nghiên cứu sâu hơn.
Các yếu tố của một chương trình hoạt động
Thông thường nó được cho rằng đối với việc nâng cao các hoạt động thể chất có ảnh hưởng đến việc khống chế trọng lượng và tình trạng béo phì, chúng được coi là những thành phần đem lại sự gia tăng đáng kể về tiêu thụ năng lượng (Bar-Or và Baranowski, 1994; Epstein và cộng sự, 1996; Gutin và cộng sự, 2002; Sothorn, 2001). Cường độ của các hoạt động không có giá trị nếu sự điều trị chỉ tập trung vào những thay đổi của cấu tạo cơ thể như giảm toàn bộ mỡ cơ thể và mỡ nội tạng. Tuy nhiên, để đem lại một sự gia tăng về thể lực yếm khí thì các hoạt động sẽ phải bao gồm một yếu tố hoạt động với cường độ cao (Gutin và cộng sự, 2002).
Không giống như người lớn, trẻ con hiếm khi tự mình thực hiện các bài tập chỉ vì những lợi ích về sức khoẻ. Chúng đòi hỏi ngay lập tức một thoả mãn từ hoạt động đó, và tất nhiên phải có cả sự thích thú trong đó. Điều này không phải là cường điệu. Hơn nữa, việc duy trì thời gian dài những lợi ích của một chương trình huấn luyện nào đó có vẻ phù hợp hơn đối với việc xuất hiện nếu các hoạt động đó thực chất là một “lối sống” huống hồ là một tập hợp những bài tập thể dục nhịp điệu hay các bài tập mềm dẻo đan xen (Epstein và cộng sự, 1994). Một yếu tố quan trọng khác là giảm thời gian cho việc ngồi lâu một chỗ vì thú vui nào đó, như xem truyền hình (Faith và cộng sự, 2001). Giảm thời gian ngồi trước tuyền hình có thể rất hiệu quả trong việc ngăn chặn bệnh béo phì trong số trẻ em độ tuổi đi học (Robinson, 1999). Cuối cùng, trong việc xây dựng một chương trình nào đó cần phải tập trung vào nâng cao động cơ thúc đẩy để trở thành và duy trì hoạt động. Thí dụ, những bậc cha mẹ có thể khích lệ nâng cao hoạt động của trẻ bằng việc đưa ra những phần thưởng. Trong phòng khám bệnh dành cho các bệnh nhân ngoại trú của chúng tôi, chúng tồi thường lập các chương trình mang tính động cơ một cách định kì như là Chương trình về các bài tập về tần số (tương tự như các chương trình huấn luyện trong hàng không), mà đã được những bệnh nhân trẻ tuổi đánh giá rất cao. Cũng như đối với một chương trình như vậy, các bệnh nhân đã mạnh dạn cố gắng tích luỹ từng bước “bậc thang” theo hình tháp CN (giới hạn Toronto). Cứ 15 phút lại dừng hoạt động và được chuyển sang một mức thang khối lượng khác và được đứa trẻ ghi lại vào một mẫu ghi đặc biệt. Một lần đứa trẻ đó đã tích tụ số bậc thang để đạt tới “đỉnh tháp” thì nên có một phần thưởng để động viên.
Thật lý tưởng nếu việc nâng cao hoạt động sẽ trở thành một chương trình mang tính gia đình, đặc biệt đối với trẻ em trong thập kỉ đầu đời của mình. Một số thông tin thiết thực về việc làm thế nào để các bậc cha mẹ có thể thu hút trong việc nâng cao hoạt động thể chất cho con của mình, có thể truy nhập vào trang Website sau: http://www.paguide.com/. Trang Web này có Hướng dẫn hoạt động thể chất đối với trẻ em và thanh niên, 2002. Một thư mục đặc biệt của trang này đó là “những công cụ dành cho các bậc cha mẹ”.

Những thập kỉ gần đây đã xuất hiện một cao trào rộng khắp thế giới của việc lan tràn bệnh béo phì. Trong khi các nguyên nhân của dịch bệnh vẫn chưa được làm rõ thì nguyên nhân giảm lượng thời gian vào các hoạt động thể chất và tăng thời gian ngồi một chỗ như xem truyền hình hay chơi trò chơi máy tính có khả năng là những dữ kiện rất quan trọng. Việc nâng cao hoạt động thể chất là một thành phần quan trọng của bất kì một chương trình nào để tập trung vào việc điều chỉnh trọng lượng cơ thể. Một chương trình đó phải bao gồm các yếu tố đem lại một sự tiêu thụ năng lượng đáng kể. Tuy nhiên, gồm cả việc duy trì tập luyện thì mới có hiệu quả trong việc nâng cao lượng mỡ tự do. Trẻ em sẽ không tăng được hoạt động của chúng “Vì lý do sức khoẻ”, chúng phải được nhìn thấy được sự ban thưởng khi đạt được một hoạt động cao hơn. Điều này có thể thực hiện được nếu thu hút đứa trẻ trong các hoạt động đem lại sự

Print

Số lần xem (12857)/Ý kiến bạn đọc (0)