Responsive image

Chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 04/9

Thông tin báo chí chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 04/9

THÔNG TIN BÁO CHÍ

    THÔNG TIN CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia

Chính phủ vừa ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp trong GDP đạt trên 40%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30%, trong đó công nghệ chế tạo đạt trên 20%. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt tối thiểu 45%. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt bình quân trên 10%/năm. Tốc độ tăng năng suất lao động công nghiệp đạt bình quân 7,5%/năm. Chỉ số hiệu suất cạnh tranh công nghiệp (CIP) nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN. Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đạt trên 70%. Xây dựng một số doanh nghiệp công nghiệp có quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Để đạt được mục tiêu trên, Chương trình đề ra 9 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu: 1- Chính sách phân bố không gian và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp; 2- Chính sách phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên; 3- Chính sách tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển công nghiệp; 4- Chính sách phát triển doanh nghiệp công nghiệp; 5- Chính sách phát triển nguồn nhân lực công nghiệp; 6- Chính sách khoa học và công nghệ cho phát triển công nghiệp; 7- Chính sách khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên, khoáng sản; chú trọng bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu trong quá trình phát triển công nghiệp; 8- Trách nhiệm của địa phương; 9- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công nghiệp.

Trong đó, về chính sách phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, Chính phủ giao Bộ Công Thương tập trung hoàn thiện các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên.

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các tỉnh, thành phố có tiềm năng, lợi thế về công nghiệp để ban hành định hướng phát triển công nghiệp và xây dựng tổ chức bộ máy, bố trí các nguồn lực cho phát triển công nghiệp tại địa phương. Hỗ trợ phát triển các nhà cung ứng trong các ngành công nghiệp ưu tiên, coi đây là cốt lõi của chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung cơ cấu lại lĩnh vực công nghiệp chế biến nông sản theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng tỷ lệ chế biến sâu, chế biến tinh có giá trị gia tăng cao gắn với 3 cấp sản phẩm gồm: Nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm là đặc sản địa phương.

Bộ Xây dựng xây dựng cơ chế, chính sách phát triển sản xuất các sản phẩm vật liệu xây dựng chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; sản phẩm cách âm, cách nhiệt, thân thiện với môi trường, vật liệu không nung; sản phẩm tái chế.

Bộ Giao thông vận tải ưu tiên sử dụng các sản phẩm trong nước và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tham gia vào các dự án giao thông đường bộ và đường sắt, đặt biệt là các dự án quy mô lớn.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành chính sách ưu đãi theo nguyên tắc mức độ và thời gian ưu đãi của các dự án FDI sẽ phụ thuộc vào mức độ tạo ra giá trị gia tăng trong nước và các chế tài kèm theo. Xây dựng các cơ chế, chính sách nâng cao giá trị gia tăng của doanh nghiệp nội địa trong chuỗi giá trị toàn cầu; chính sách về tín dụng hỗ trợ, khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao...

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành các giải pháp tín dụng nhằm kiểm soát quy mô, tăng trưởng tín dụng theo chỉ tiêu định hướng, gắn với nâng cao chất lượng tín dụng và quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng. Chỉ đạo tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng hiệu quả, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ trong đó có ngành công nghiệp ưu tiên. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.

Về chính sách tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển công nghiệp, Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính trong công tác đầu tư. Đổi mới chính sách và đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo. Chuyển mạnh chính sách thu hút FDI trong lĩnh vực công nghiệp từ số lượng sang chất lượng và có trọng tâm, trọng điểm.

Bộ Công Thương tích cực tháo gỡ các rào cản thị trường, chống các hành vi độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh. Triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc các sản phẩm công nghiệp, tập trung vào các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển như dệt may, da-giày, công nghiệp thực phẩm, điện-điện tử, cơ khí và các sản phẩm công nghệ cao.

Về chính sách khoa học và công nghiệp cho phát triển công nghiệp, Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện việc tái cơ cấu các Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia theo hướng phục vụ thiết thực các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp ưu tiên. Nâng cao năng lực ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới để phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực có tính cạnh tranh cao của quốc gia.

Đồng thời, ưu tiên nguồn lực cho triển khai một số chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tập trung phát triển các công nghệ ưu tiên có khả năng ứng dụng vào thực tiễn để phát triển các sản phẩm cụ thể, phù hợp với lợi thế cạnh tranh của đất nước, có tác động lan tỏa đến các ngành, lĩnh vực khác, bao gồm: công nghệ thông tin và truyền thông, cơ điện tử; công nghệ mới trong lĩnh vực năng lượng; trí tuệ nhân tạo và tự động hóa; công nghệ sinh học, điện tử y sinh.

Bên cạnh đó, hoàn thiện khung pháp lý cho các dịch vụ, mô hình kinh doanh mới phù hợp với xu hướng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Hỗ trợ xây dựng và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong công nghiệp đặc biệt là các ngành công nghiệp ưu tiên. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực, ngành công nghiệp chủ lực, ưu tiên.

Quy định quản lý gỗ nhập khẩu, xuất khẩu

Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2020/NĐ-CP quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam. Trong đó, Nghị định quy định rõ việc quản lý gỗ xuất – nhập khẩu.

Quy định về quản lý gỗ nhập khẩu

Về quản lý gỗ nhập khẩu, Nghị định quy định gỗ nhập khẩu phải đảm bảo hợp pháp, được làm thủ tục xuất - nhập khẩu và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật về Hải quan.

Quản lý gỗ nhập khẩu được thực hiện trên cơ sở áp dụng biện pháp quản lý rủi ro để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm gỗ nhập khẩu hợp pháp, đồng thời khuyến khích, tạo thuận lợi đối với tổ chức, cá nhân tuân thủ pháp luật.

Gỗ nhập khẩu được quản lý rủi ro theo các tiêu chí xác định quốc gia thuộc vùng địa lý tích cực hoặc không tích cực, loại gỗ thuộc loại rủi ro hoặc không thuộc loại rủi ro theo quy định.

Chủ gỗ nhập khẩu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về: Nguồn gốc hợp pháp của gỗ nhập khẩu theo các quy định pháp luật có liên quan của quốc gia nơi khai thác gỗ; tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về cung cấp thông tin theo tiêu chí đánh giá vùng địa lý tích cực xuất khẩu gỗ vào Việt Nam và tiêu chí xác định loại gỗ rủi ro nhập khẩu vào Việt Nam theo quy định…

Quy định về quản lý gỗ xuất khẩu

Theo Nghị định, gỗ xuất khẩu phải đảm bảo hợp pháp, được làm thủ tục xuất - nhập khẩu và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật về Hải quan.

Gỗ xuất khẩu được quản lý theo loại gỗ, thị trường xuất khẩu và trên cơ sở kết quả phân loại doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ.

Gỗ xuất khẩu phải có giấy phép CITES hoặc giấy phép FLEGT hoặc bảng kê gỗ theo quy định.

Lô hàng gỗ xuất khẩu đã được cấp phép FLEGT được ưu tiên trong việc thực hiện thủ tục Hải quan theo quy định của pháp luật về Hải quan.

Nghị định phân loại cụ thể doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ. Theo quy định có 2 loại doanh nghiệp: Doanh nghiệp Nhóm I và doanh nghiệp Nhóm II.

Doanh nghiệp Nhóm I là những doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các tiêu chí:

1- Tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật trong việc thành lập và hoạt động ít nhất 1 năm kể từ ngày đăng ký thành lập doanh nghiệp;

2- Tuân thủ quy định pháp luật về bảo đảm hỗ hợp pháp theo quy định của Nghị định này và quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quản lý, truy xuất nguồn gỗ lâm sản;

3- Tuân thủ chế độ báo cáo theo quy định và lưu giữ hồ sơ gốc theo quy định của pháp luât;

4- Không vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý theo quy định;

5- Các tiêu chí tại điểm 1 và 2 trên được quy định chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.

Doanh nghiệp Nhóm II là doanh nghiệp chưa đáp ứng được một trong các tiêu chí quy định ở trên.

Nghị định quy định rõ lô hàng gỗ xuất khẩu của chủ gỗ không phải là doanh nghiệp Nhóm I phải xác nhận nguồn gốc gỗ trước khi xuất khẩu.

Lô hàng gỗ có nguồn gốc từ gỗ rừng trồng trong nước xuất khẩu sang thị trường ngoài EU thì không cần xác nhận.

Thông qua Bản Ghi nhớ về hợp tác với Thái Lan trong lĩnh vực giáo dục

Chính phủ vừa quyết nghị thông qua nội dung Bản Ghi nhớ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục.

Chính phủ ủy quyền cho Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo thay mặt Chính phủ ký Bản Ghi nhớ với đại diện được Ủy quyền của Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục.

Bộ Ngoại giao thực hiện các thủ tục đối ngoại theo quy định hiện hành.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện Bản Ghi nhớ ngay sau khi văn kiện có hiệu lực.

Phê duyệt chủ trương đầu tư dự án sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt chủ trương đầu tư dự án sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân.

Mục tiêu của dự án là xây dựng Cơ sở dữ liệu Căn cước công dân thống nhất trên toàn quốc, thực hiện thu nhận và quản lý dữ liệu đăng ký Căn cước công dân tự động trên cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin giúp lưu trữ, truy xuất, chia sẻ, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và tiện lợi nhất; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về Căn cước công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong khi thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch dân sự; hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế xã hội của cả nước; góp phần phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an là chủ chủ đầu tư dự án.

Về quy mô, nội dung đầu tư, xây dựng hệ thống Căn cước công dân thống nhất trên toàn quốc, được triển khai và quản lý tập trung tại Bộ Công an, gồm: Đầu tư phần cứng (hệ nhận dạng sinh trắc học, máy chủ, máy trạm, thiết bị ngoại vi, thiết bị lưu trữ, thiết bị bảo mật); đầu tư phần mềm (phần mềm thương mại, phần mềm ứng dụng); dịch vụ đào tạo, triển khai thiết lập hạ tầng.

Thời gian thực hiện dự án từ năm 2020 - 2022 tại Bộ Công an; Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Công an các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tổng mức đầu tư của dự án là 2.696 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Chuyển mục đích sử dụng đất tại 3 tỉnh

Thủ tướng Chính phủ đồng ý việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn 3 tỉnh Hải Dương, Thái Nguyên và Hòa Bình.

Cụ thể, tại công văn 1189/TTg-NN1192/TTg-NN, Thủ tướng Chính phủ đồng ý UBND tỉnh Hải Dương quyết định chuyển mục đích sử dụng 69,87 ha đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp.

Tại công văn 1188/TTg-NN, Thủ tướng Chính phủ đồng ý UBND tỉnh Thái Nguyên quyết định chuyển mục đích sử dụng 51,97 ha đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp.

Tại công văn 1190/TTg-NN, Thủ tướng Chính phủ đồng ý UBND tỉnh Hòa Bình quyết định chuyển mục đích sử dụng 47 ha đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND 3 tỉnh Hải Dương, Thái Nguyên và Hòa Bình chỉ đạo thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nêu trên theo đúng quy định của pháp luật về đất đai, Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015, số 62/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường theo dõi và hướng dẫn thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại 3 tỉnh trên theo quy định.

Đẩy nhanh tiến độ cải tạo đường ngang, giảm TNGT đường sắt

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ nâng cấp, cải tạo các đường ngang tiềm ẩn nguy cơ cao về mất an toàn giao thông, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông trên hệ thống đường sắt quốc gia.

Để đẩy nhanh tiến độ nâng cấp, cải tạo các đường ngang tiềm ẩn nguy cơ cao về mất an toàn giao thông, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông trên hệ thống đường sắt quốc gia, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Giao thông vận tải tiếp tục giao nguồn vốn sự nghiệp kinh tế năm 2020 cho Tổng công ty Đường sắt Việt Nam để tổ chức thực hiện, hoàn thành nâng cấp, cải tạo 82 đường ngang biển báo còn lại để hoàn thành nâng cấp, cải tạo toàn bộ 452 đường ngang biển báo trong thời gian sớm nhất.

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung báo cáo và kiến nghị. Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo Tổng công ty Đường sắt Việt Nam khẩn trương tổ chức thực hiện, hoàn thành việc nâng cấp, cải tạo các đường ngang biển báo theo đúng quy định pháp luật, bảo đảm chất lượng, tiến độ, tiết kiệm, hiệu quả, không để xảy ra tiêu cực, lãng phí.

Bắc Ninh cần đẩy mạnh 3 đột phá

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh.

Trong 8 tháng đầu năm 2020, tuy gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh COVID-19 nhưng xuất khẩu của tỉnh Bắc Ninh vẫn đạt 20,638 tỷ USD, tăng 1,1%; tổng vốn đầu tư phát triển tăng 36% so với cùng kỳ; thu hút vốn đầu tư đạt khá. Tỉnh đã chủ động thực hiện các giải pháp, cách làm phù hợp, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu; tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn, tín dụng, tài chính, thuế, thương mại, thanh toán điện tử...Giải ngân vốn đầu tư công đạt 68%, Bắc Ninh là một trong những địa phương đạt tỷ lệ giải ngân cao của cả nước...

Tuy nhiên, Bắc Ninh còn một số tồn tại cần sớm khắc phục như: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh của Tỉnh; tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề và hệ thống sông, ngòi chưa được cải thiện. Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu và yếu. Du lịch, dịch vụ phát triển còn chậm; công nghiệp hỗ trợ phát triển chưa tương xứng với lợi thế của địa phương.

Trong thời gian tới, Phó Thủ tướng yêu cầu tỉnh Bắc Ninh cần đẩy mạnh 3 đột phá: Đổi mới - Sáng tạo - Khát vọng, phát huy tiềm năng thế mạnh, tạo động lực mới cho phát triển nhanh bền vững. Trong đó, nâng cấp và phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh, thông minh. Thúc đẩy tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng đô thị và nông thôn quy mô, đồng bộ, hiện đại, nâng cao tỷ lệ đô thị hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển và các tiêu chí thành phố trực thuộc Trung ương gắn với mối quan hệ với vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, cả nước.

Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tăng cường cung cấp dịch vụ công, xây dựng chính quyền điện tử, thành phố thông minh, hướng tới chính quyền số, nền kinh tế số với mục tiêu nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, tiết kiệm thời gian, chi phí, tăng cường sự minh bạch và chịu trách nhiệm của cơ quan quản lý, hình thành nền hành chính chuyên nghiệp, tạo môi trường trong sạch, an toàn, cuộc sống văn minh, tươi đẹp.

Bên cạnh đó, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Bắc Ninh cần xác định là nơi thu hút đội ngũ nhân tài trí thức, nhất là trong lĩnh vực khoa học công nghệ; thu hút các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, có tiềm lực mạnh, có thương hiệu đến đầu tư phát triển, tạo động lực lan tỏa thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp khác. Tạo bước đột phá đầu tư vào ngành du lịch, phát triển du lịch Bắc Ninh tương xứng với tiềm năng và lợi thế, đưa Bắc Ninh trở thành nơi đáng sống, điểm đến của du khách và các nhà đầu tư.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bắc Ninh cần đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, thi công, giải ngân các dự án, trọng tâm là các dự án trọng điểm, các dự án có vốn bố trí lớn, dự án hoàn thành trong năm 2020. Tránh tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư, thực hiện các dự án đầu tư công không hiệu quả, lãng phí nguồn lực; tích cực giám sát, kiểm tra phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ đầu tư công.

Hoàn thiện và hướng dẫn triển khai thống nhất toàn tỉnh hệ thống thông tin về đầu tư, giải ngân vốn ngân sách nhà nước theo quy định để kịp thời cập nhật tình hình giải ngân, phục vụ điều hành, triển khai kế hoạch vốn đầu tư công. Kiên quyết điều chuyển nguồn vốn đầu tư công từ các dự án có tỷ lệ giải ngân thấp sang các dự án có khả năng hoàn thành, giải ngân cao, nhu cầu vốn lớn. Phấn đấu hoàn thành giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2020.  

Rà soát, tháo gỡ hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết các vướng mắc liên quan đến thủ tục đầu tư, khi triển khai thực hiện các chương trình, dự án và giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt là các dự án sử dụng vốn ODA theo quy định. Trường hợp giải ngân không đạt tiến độ theo cam kết, xem xét điều chuyển chủ đầu tư dự án theo thẩm quyền; thực hiện việc tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng, bảo đảm công khai, minh bạch, bảo đảm nhà thầu có năng lực triển khai thực hiện dự án. 

Sửa đổi Danh sách Ủy viên Ủy ban Quốc gia ASEAN 2020

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh - Chủ tịch Ủy ban Quốc gia ASEAN 2020 vừa ký quyết định sửa đổi Danh sách Ủy viên Ủy ban Quốc gia ASEAN 2020.

Cụ thể, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông thay ông Lê Quang Tùng.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương thay ông Vũ Đại Thắng.

Huyện Cờ Đỏ (TP Cần Thơ) đạt chuẩn nông thôn mới

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký quyết định công nhận huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019.

UBND thành phố Cần Thơ có trách nhiệm công bố và khen thưởng theo quy định, chỉ đạo huyện Cờ Đỏ tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí, chú trọng các tiêu chí về sản xuất và môi trường để đảm bảo tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới./.

 

Print
48 Rate this article:
No rating

Please login or register to post comments.

Close Copyright [2018] by TTTT
Back To Top